Họ điều tra theo hai hướng song song.
Thẩm Minh Khải tập trung vào phương tiện: ai có thể vào bảo tàng, cách tranh được vận chuyển ra, ai biết về điểm mù camera. Đây là phần anh ta giỏi — đi gặp người, hỏi han, đọc ngôn ngữ cơ thể, theo dõi lịch sử ra vào.
Chu Tư Ninh tập trung vào chân dung tâm lý: người làm điều này là ai, họ nghĩ gì, họ muốn gì. Không phải giải thích lý do phạm tội — mà là hiểu người phạm tội đang ở đâu trong đầu họ khi làm điều đó.
Buổi chiều họ ngồi trao đổi trong phòng họp nhỏ ở sở cảnh sát.
"Điểm mù camera bị tắt trong vòng ba mươi giây vào đêm mười hai tháng Chín," Thẩm Minh Khải nói. "Cần người biết kỹ thuật, hoặc biết người biết kỹ thuật. Danh sách nhân viên bảo tàng có quyền truy cập hệ thống: bảy người."
"Người làm tranh giả không cần tắt camera tự tay," Tư Ninh nói. "Họ chỉ cần biết khi nào camera tắt — hoặc ai đó tắt giúp. Hai người khác nhau."
"Cô đang đề xuất đồng phạm bên trong."
"Tôi đang đề xuất rằng kẻ làm tranh và kẻ vận chuyển tranh có thể không phải một người." Cô nhìn anh ta. "Họa sĩ giỏi không phải tội phạm chuyên nghiệp. Người ta có thể ép họ."
Anh ta ghi lại. "Tiếp tục."
"Người sửa lỗi giải phẫu trong tranh không phải người làm việc này vì tiền. Họ làm vì lý do khác — có thể bị ép buộc, có thể có nợ nần, có thể bảo vệ ai đó. Kẻ làm tranh giả để kiếm tiền thì chép nguyên, không sửa. Đây là người quan tâm đến bức tranh hơn quan tâm đến việc không bị phát hiện."
---
Họ tìm ra cửa hàng vật liệu hội họa qua manh mối nhỏ: dầu lanh đặc biệt dùng trong tranh giả có nguồn gốc từ một nhà cung cấp chuyên biệt, không phải hàng thông thường. Trong ba tháng qua, nhà cung cấp đó bán cho bốn khách mua số lượng đủ để vẽ một bức tranh cỡ đó.
Ba người trong số đó là họa sĩ đã xác minh được.
Người thứ tư — Vương Tử Kiệt, hai mươi bảy tuổi, làm tại bảo tàng tư nhân Minh Châu với chức vụ chuyên viên phục chế tranh.
"Quyền truy cập kho tranh gốc," Thẩm Minh Khải nói.
"Và đủ tài năng để làm điều này," Tư Ninh thêm vào.
Vì lý do bản quyền, nội dung đã được thu gọn...
